Các xe khởi động với 2 loại: Hệ thống khởi động bằng điện và bằng giò đạp. Hệ thống khởi động bằng điện làm quay trục cơ bằng cách sử dụng motor và được lấy điện từ bình điện. Các thành phần cơ bản của mạch khởi động bao gồm mô tơ khởi động, rơ le khởi động, công tắc khởi động, công tắc khóa điện và dây nối. Khi nhấn vào công tắc khởi động khi khóa đang ở vị trí ON thì dòng điện sẽ được gửi đến rơ le khởi động và làm khởi động động cơ.

Lý do tại sao sử dụng rơ le khởi động: sử dụng rơ le khởi động (sử dụng dòng điện nhỏ để điều khiển một dòng điện lớn hơn) có các thuận lợi sau:

– Công tắc đề được dùng để điều khiển rơ le, hơn là phải sử dụng một dòng điện lớn để điều khiển mô tơ. Công tắc này do vậy sẽ dễ dàng thao tác và gọn nhẹ hơn.

– Tối ưu hóa sự rò rỉ hiệu điện thế.
1. Rơ le đề:

Nó được xây dựng trên nguyên tắc sử dụng dòng điện để đẩy cần kết nối, do vậy có tác dụng đóng và mở mạch, cho phép công tắc sử dụng một dòng điện nhỏ để điều khiển một dòng điện lớn hơn. Nó được gọi là công tắc rơ le đề bởi vì chúng được sử dụng cho môtơ khởi động (Nó còn được gọi là công tắc từ khởi động).

a. Hoạt động của rơ le:

– Khi công tắc không được nhấn:
Lò xo sẽ kéo thanh kết nối khỏi điểm tiếp xúc giữa bình điện và mô tơ khởi động

– Khi công tắc được nhấn:

Dòng điện từ bình điện sẽ sinh ra từ trường trong cuộc dây và đẩy thanh kết nối chạm vào điểm tiếp xúc, khi đó sẽ có tiếng Click, dòng điện cung cấp cho mô tơ phụ thuộc vào tải trọng mô tơ (vài chục đến vài trăm ampe)

2. Mô tơ khởi động:

Mô tơ khởi động gồm lõi và phần trong bao gồm nam châm vĩnh cửu. Lõi bao gồm phần ứng và cuộn dây và cái chuyển mạch và còn có trục quay có vòng bi. Lõi cuộn dây được làm bằng kim loại cả 2 đầu ra được kết nối với chuyển mạch.

Từ năm 2006 trở đi thì chuyển mạch loại đĩa được sử dụng ở một số đời xe. Chổi quét được tiếp xúc với chuyển mạch dọc theo hướng trục. Chiều dài tổng của mô tơ được rút ngắn xuống do thiết kế này.

3. Cơ chế hoạt động của mô tơ:

Đặt cuộn dây giữa nam châm và cho dòng điện đi qua nó thì lực từ sẽ làm quay cuộn dây.

Khi cuộn dây quay đến 90 độ thì đầu chuyển mạch (a1, a2) và chổi quét (b1,b2) tiếp xúc với nhau. Chiều của dòng điện trong vòng dây đảo lại. Chiều của lực từ trường vẫn không đổi, vì vậy vòng dây vẫn tiếp tục quay. Toàn bộ khối quay được gọi là phần ứng.

Môtơ khởi động có một số lượng lớn các vòng dây và các cuộn dây cách biệt để đạt tới mô men quay mong muốn.

4. Dòng điện sinh ra qua chổi than, chuyển mạch và cuộn dây:

Điều gì xảy ra với dòng điện ở chổi than, chuyển mạch và cuộn dây khi có nhiều cuộn dây được sử dụng? Hãy nghiên cứu một mô hình đơn giản. Ở motor thì dòng điện sẽ đi từ cực dương của chổi than qua chuyển mạch và cuộn dây và sau đó qua các chuyển mạch khác và cuối cùng đến cực âm của chổi than. Những bước tiếp theo sẽ được giải thích ở các trang sau.

– Chiều quay của cuộn dây và chiều dòng điện (giải thích với cuộn dây A)


+ Ngắn mạch giữa các chuyển mạch, hoặc giữa chuyển mạch và trục sẽ ngăn cản dòng điện chạy trong cuộn dây, do vậy giảm mô men quay của motor.

+ Hở mạch cũng gây ra hiện tượng ngăn cản dòng điện chạy trong cuộn dây, do vậy giảm mô men quay của motor.

5. Đặc tính của mô tơ khởi động:

Dòng điện ở mô tơ có quan hệ với mô men quay và tốc độ là vòng trên phút

(1) Dòng điện sẽ cực đại khi tốc độ vòng/phút là O và giảm dần khi tốc độ tăng lên

(2) Dòng điện lớn hơn đồng nghĩa với mô men lớn hơn và ngược lại

Lưu lượng dòng điện lớn đi qua mô tơ khởi động ở thời gian khi vòng tua là 0 vòng/ phút đến khi động cơ bắt đầu chạy, do vậy ấn liên tục vào công tắc đề khi động cơ không khởi động vì một lý do nào đấy làm cho dòng điện lớn truyền đến mô tơ và có thể làm hỏng cuộn dây.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *